Khái niệm marketing và các khái niệm liên quan

0 49

1 Khái niệm marketing

♦ Cho đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng marketing với việc chào hàng (tiếp thị), nghề marketing là nghề đi chào hàng, đi giao hàng, giới thiệu dùng thử sản phẩm (nghề tiếp thị) hoặc marketing thực chất là bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ. Vì vậy, họ quan niệm marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán sử dụng để cốt làm sao bán được nhiều và bán hết những hàng hóa đã sản xuất ra để thu được tiền về cho người bán.

♦ Từ thực tiễn của kinh doanh trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, hiểu như trên là sai lầm và là mầm mống của mọi thất bại. Thực ra, tiêu thụ và hoạt động tiếp thị chỉ là một trong những khâu của hoạt động marketing. Hơn thế nữa, trong hầu hết các trường hợp, đó lại không phải là khâu quan trọng nhất. Một hàng hoá không phù hợp với mong muốn và đòi hỏi của người tiêu dùng, hoặc do chất lượng thấp, hoặc do kiểu dáng kém hấp dẫn, hoặc do giá cả đắt… kém hấp dẫn so với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh, dù cho người ta có tốn bao nhiêu công sức và tiền của để thuyết phục khách hàng, thì việc mua chúng vẫn rất hạn chế. Ngược lại nếu như nhà kinh doanh tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, tạo ra những mặt hàng phù hợp với nhu cầu và mong muốn đó, quy định một mức giá thích hợp, có một phương thức phân phối hấp dẫn và kích thích tiêu thụ có hiệu quả hơn so với hàng hóa tương tự của đối thủ cạnh tranh thì chắc chắn việc bán những hàng hoá đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Cách làm như thế là biểu hiện của việc thực hành quản trị kinh doanh theo quan điểm của marketing hiện đại. Người ta có rất nhiều định nghĩa khác nhau về marketing, trong bài giảng này, chúng tôi sử dụng định nghĩa marketing như sau:
♦ Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thoả mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.

♦ Thông thường, người ta cho rằng marketing là công việc của bên bán, nhưng hiểu một cách đầy đủ thì đôi khi cả bên mua cũng phải làm marketing. Do đó, thường thì trên thị trường, bên nào “tích cực” hơn trong việc tìm kiếm cách trao đổi với bên kia, thì bên đó thuộc về phía làm marketing. Trong bài giảng này, viết về marketing của bên bán. Chủ thể làm marketing là công ty bán hàng. Khái niệm marketing trên đây được xây dựng trên cơ sở hàng loạt khái niệm cơ bản khác. Dưới đây ta sẽ nghiên cứu các khái niệm đó.

2 Nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán (cầu thị trường)

♦ Từ thực tế cuộc sống, chúng ta hiểu rằng, nhiều người thích mua một loại hàng hoá không phải chỉ vì sự tài tình của người bán mà trước hết chính là vì hàng hoá đó tạo ra sự hấp dẫn đối với họ. Vì sao hàng hoá của hãng này lại có khả năng hấp dẫn và được người ta mua nhiều hơn hàng hoá tương tự của hãng khác? Câu trả lời chỉ có thể là vì người sản xuất đã tạo ra cho nó một khả năng thích ứng với nhu cầu thị trường tốt hơn. Vậy nhu cầu thị trường là gì?

♦ Nhu cầu thị trường vẫn được nhiều nhà kinh doanh hiểu một cách tùy tiện và đơn giản chỉ là sự đòi hỏi của con người về một vật phẩm nào đó. Nhưng thực ra đây là một thuật ngữ mà nội dung của nó hàm chứa ba mức độ: nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.

  • Nhu cầu tự nhiên là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu tự nhiên được hình thành là do trạng thái ý thức của người ta về việc thấy thiếu một cái gì đó để phục vụ cho tiêu dùng. Trạng thái ý thức thiếu hụt đó phát sinh có thể do sự đòi hỏi của sinh lý, của môi trường giao tiếp xã hội hoặc do thuộc về vốn tri thức của cá nhân mỗi con người và/hoặc cách thức họ muốn tự thể hiện… Sự thiếu hụt càng gia tăng từ cảm nhận thì sự khát khao được thoả mãn càng lớn và khi đó cơ hội kinh doanh càng hấp dẫn.
  • Nhu cầu tự nhiên là vốn có, là một mặt bản thể của con người, nhà hoạt động marketing không tạo ra nó. Việc cần có cơm ăn, áo mặc, nhà ở… gắn liền với sự tồn tại của chính bản thân con người. Hoạt động của các nhà quản trị marketing chỉ có thể góp phần phát hiện ra trạng thái thiếu hụt, tức là những nhu cầu tự nhiên chứ hoàn toàn không sáng tạo ra nó. Nhưng nếu các nhà quản trị marketing chỉ dừng ở việc phát hiện ra nhu cầu tự nhiên của con người, và sản xuất ra loại sản phẩm thuộc danh mục hàng hoá thoả mãn nhu cầu đó, thì họ đã quá đơn giản hóa sự đòi hỏi của con người. Những nhà kinh doanh mà hiểu sự đòi hỏi hay nhu cầu của con người chỉ có như vậy trong điều kiện cạnh tranh sẽ báo trước một sự thất bại.
  • Người làm marketing nhận thức về nhu cầu thị trường không thể chỉ dừng ở nhu cầu tự nhiên. Để tạo ra được sản phẩm hàng hoá thích ứng với nhu cầu thị trường, khác biệt với hàng hoá cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của công ty, người ta phải hiểu một mức độ sâu hơn của nhu cầu thị trường, đó là mong muốn.
  • Mong muốn (hay ước muốn) là nhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù, đòi hỏi được đáp lại bằng một hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hoá và tính cách cá nhân của con người. Ví dụ, đói là một cảm giác thiếu hụt lương thực, thực phẩm trong dạ dày. Sự cảm nhận hay nhận thức được sự đói là nhu cầu tự nhiên của con người. Để đáp lại “sự đói” người ta biết chắc là phải dùng lương thực và thực phẩm, nhưng mỗi người lại có đòi hỏi riêng về đặc tính đặc thù của lương thực, thực phẩm. Người này thì đòi phải có cơm, người khác lại cần bánh mì, người này cần cơm chiên, người khác cần cơm nấu trong nồi đất, người này cần cơm bằng giống gạo này, người khác cần cơm thổi từ giống gạo khác… Cái gì chi phối những đòi hỏi khác nhau đó? Các chuyên gia về nhu cầu cho rằng: Đó là do mong muốn. Từ đó dễ dàng nhận thấy, nhu cầu tự nhiên phản ánh sự đòi hỏi về một chủng loại sản phẩm, mong muốn phản ánh sự đòi hỏi về một dạng cụ thể trong một chủng loại sản phẩm nào đó.

Như vậy, chỉ có phát hiện ra mong muốn của từng người hoặc tập hợp người, người ta mới tạo ra những thuộc tính đặc thù của cùng một loại sản phẩm. Nhờ vậy mà tăng khả năng thích ứng và cạnh tranh trên thị trường và nâng cao được hiệu quả kinh doanh.

Dựa vào nhu cầu tự nhiên của con người, nhà kinh doanh sẽ xác định được một chủng loại sản phẩm để đáp ứng một loại nhu cầu. Nhưng dựa vào mong muốn của con người thì nhà kinh doanh mới có thể xác định được các thông số và đặc tính của sản phẩm, từ đó quyết định sản xuất mặt hàng cụ thể mà con người – thị trường cần. Nhờ vậy mới có thể tạo ra sản phẩm tiến bộ và nâng cao khả năng cạnh tranh của nhãn hiệu sản phẩm do họ sản xuất ra.

Tuy nhiên, phát hiện ra nhu cầu tự nhiên thường dễ dàng, khám phá ra mong muốn về từng khía cạnh của nhu cầu lại là công việc khó khăn hơn, đòi hỏi phải nghiên cứu tỉ mỉ và kỹ lưỡng hơn. Và đôi khi mong muốn của con người tồn tại dưới dạng tiềm ẩn mà chính họ cũng không nhận thức được. Nhưng hễ được nhà kinh doanh hoặc một yếu tố môi trường nào đó gợi mở thì nó có thể bùng phát nhanh và biến thành sức mua mạnh mẽ.

Nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người là vô hạn, nhà kinh doanh không chỉ phát hiện và sản xuất ra sản phẩm để thích ứng với chúng như là những thứ cho không, mà phải thông qua trao đổi để vừa thoả mãn lợi ích của người tiêu dùng, vừa thoả mãn mục đích của nhà kinh doanh. Vì vậy trong khi đáp lại nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người nhà kinh doanh phải tính đến một khía cạnh khác của nhu cầu thị trường – nhu cầu có khả năng thanh toán.

  • Nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu tự nhiên và mong muốn phù hợp với khả năng thu nhập/ngân quỹ mua sắm. Nhà kinh doanh có thể phát hiện ra nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người. Họ có thể chế tạo ra đủ loại hàng hoá với những đặc tính cực kỳ hoàn mỹ, rút cục lại họ cũng chẳng bán được bao nhiêu, nếu như chi phí sản xuất ra nó lại quá lớn, giá cao đến mức người ta không thể mua được, mặc dù người ta rất thích được dùng nó. Khi đó nhu cầu tự nhiên và mong muốn hay nhu cầu tiềm năng không thể biến thành nhu cầu có khả năng thanh toán – cầu thị trường – nhu cầu hiện thực.

Chừng nào mà nhà kinh doanh hiểu rõ được khách hàng sẽ cần loại hàng hoá gì? Hàng hoá đó phải có những đặc điểm gì? Đâu là những đặc trưng quan trọng nhất? Để tạo ra nó người ta chỉ được phé khống chế chi phí ở mức độ nào? Tương ứng với nó là mức giá nào thì khách hàng sẽ mua? Khi đó họ mới thực sự hiểu được nhu cầu của người tiêu dùng, và kinh doanh mới hy vọng mang lại cái mà họ chờ đợi – lợi nhuận. Từ đây có thể khẳng định rằng, trong marketing khi nói tới nhu cầu thì phải hiểu đó là nhu cầu thị trường. Để hiểu được nhu cầu thị trường đòi hỏi nhà quản trị marketing phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng tìm hiểu, xác định cặn kẽ nhu cầu thị trường trên cả ba cấp độ: nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.

3 Sản phẩm cung ứng

Sản phẩm cung ứng
minh hoa marketing

♦ Nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng được đáp ứng bởi sản phẩm cung ứng. Vậy sản phẩm cung ứng là gì?

♦ Sản phẩm cung ứng là sự kết hợp giữa sản phẩm, dịch vụ, thông tin, kinh nghiệm được chào bán ra thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu, ước muốn của con người.

♦ Dịch vụ, thông tin, kinh nghiệm kết hợp với sản phẩm vật chất để tạo thành sản phẩm cung ứng chỉ bao gồm những thứ đó đi kèm. Chúng có thể trở thành sản phẩm hàng hóa độc lập. Do đó, sản phẩm được chào bán ra thị trường không phải thuần túy chỉ có những sản phẩm vật chất, ngoài sản phẩm vật chất người ta còn chào bán cả các dịch vụ, sự hoạt động hoặc những lợi ích. Dịch vụ là những thứ vô hình, sau khi mua bán, tiêu dùng không mang lại quyền sở hữu về bất kỳ cái gì. Trong nền kinh tế thị trường phát triển hoàn chỉnh người ta còn chào bán ra thị trường cả những thứ như: khả năng của con người, địa điểm, tổ chức, thông tin và ý tưởng… Điều mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam dễ mắc phải là thường tập trung vào việc chào bán những đặc tính của sản phẩm chứ không phải là những lợi ích hoặc giải pháp do tiêu dùng sản phẩm đó mang lại. Cách làm ấy bị chi phối bởi quan điểm marketing thiển cận. Đó là, quan điểm marketing dành sự chú ý nhiều hơn tới bản thân sản phẩm cụ thể đem bán chứ không phải là những giá trị lợi ích và kinh nghiệm mà do tiêu dùng sản phẩm đó tạo ra

4 Giá trị, chi phí và sự thoả mãn

Giá trị, chi phí và sự thoả mãn

♦ Khi khách hàng quyết định mua sắm một nhãn hiệu hàng hoá cụ thể, họ thường kỳ vọng vào những lợi ích do tiêu dùng hàng hoá đó mang lại. Cùng một nhu cầu có nhiều hàng hoá hoặc nhãn hiệu hàng hoá có thể hướng đến để thoả mãn. Nhưng theo cảm nhận của người tiêu dùng thì mức độ cung cấp những lợi ích của các hàng hoá đó không giống nhau. Hàng hoá này có ưu thế về cung cấp lợi ích này, nhưng lại có hạn chế trong việc cung cấp lợi ích khác. Khi quyết định mua, người tiêu dùng buộc phải lựa chọn. Để lựa chọn, người tiêu dùng, trước hết, phải căn cứ vào khả năng cung cấp các lợi ích của hàng hóa đó và khả năng thoả mãn nhu cầu của từng hàng hoá và nhãn hiệu. Cách làm như vậy hình thành khái niệm giá trị tiêu dùng.

♦ Giá trị tiêu dùng của một sản phẩm là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng của nó trong việc cống hiến những lợi ích để thoả mãn nhu cầu của họ.

♦ Ngay đối với cùng một sản phẩm, những người tiêu dùng trong cùng một quốc gia hoặc ở các quốc gia khác nhau cũng có thể đánh giá cho nó một giá trị tiêu dùng khác nhau. Sản phẩm nào được nhiều người đánh giá giá trị tiêu dùng cao hơn thì cơ hội thị trường đối với sản phẩm đó sẽ lớn hơn. Cùng một hàng hóa có thể đối với nhóm khách hàng này, vùng thị trường này, quốc gia này được đánh giá giá trị tiêu dùng thấp, nhưng đối với nhóm khách hàng khác, vùng thị trường khác, quốc gia khác lại được đánh giá giá trị tiêu dùng cao hơn. Đó là do chuẩn mực dùng để đánh giá giá trị tiêu dùng, hoàn cảnh kinh tế và nhiều yếu tố khác nữa chi phối. Do đó, trong thực tiễn thực hành marketing cũng không loại trừ tình huống tìm thị trường cho hàng hóa, mà ở đó khách hàng đánh giá cho nó một giá trị tiêu dùng phù hợp hoặc một giá trị tiêu dùng cao hơn. Nhất là trong bối cảnh kinh tế suy thoái, thị trường bị thu hẹp và “biến dạng” liên tục, việc tìm cho những hàng hóa do doanh nghiệp đã sản xuất ra một thị trường được khách hàng đánh giá giá trị tiêu dùng phù hợp trên cơ sở giữ nguyên hoặc có sự thay đổi một vài đặc tính nào đó của hàng hóa đó (thậm chí cả việc giảm bớt những yếu tố/đặc tính không thiết yếu để có mức chi phí thấp hơn) là một trong những lối thoát ra khỏi suy thoái.

♦ Cần lưu ý rằng giá trị tiêu dùng của một sản phẩm và giá trị theo nghĩa chi phí để tạo ra nó có quan hệ mật thiết với nhau nhưng đó là hai phạm trù khác nhau. Giá trị tiêu dùng là lợi ích, công dụng, giải pháp… do tiêu dùng sản phẩm mang lại, còn chi phí để tạo ra nó là tất cả những hao tổn do nhà kinh doanh chi ra. Việc đánh giá giá trị tiêu dùng đối với các hàng hoá là suy nghĩ đầu tiên của người tiêu dùng hướng đến với hàng hoá. Để tiến dần tới quyết định mua hàng, khách hàng còn phải quan tâm tới các chi phí để biến những lợi ích tiềm năng của nó trở thành hiện thực, thậm chí cả những chi phí có thể phát sinh trong suốt quá trình vận hành, tồn tại của hàng hóa đó. Theo quan niệm của người tiêu dùng thì chi phí đối với một hàng hoá là tất cả những hao tổn mà người tiêu dùng phải bỏ ra để có được những lợi ích do tiêu dùng hàng hoá đó mang lại.

chi phí để bạn sở hữu 1 chiêc xe

♦ Như vậy để có được những lợi ích tiêu dùng khách hàng phải chi ra tiền bạc, sức lực, thời gian và thậm chí cả các chi phí để khắc phục những hậu quả phát sinh do việc tiêu dùng sản phẩm hàng hoá gây ra. Những chi phí này bao gồm cả chi phí mua sắm, sử dụng và đào thải sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để khách hàng đánh giá ưu thế hay hạn chế khi quyết định lựa chọn những hàng hoá tương tự do các nhà kinh doanh khác nhau cung ứng để thoả mãn cùng một nhu cầu. Qua đây, chúng ta dễ dàng khẳng định rằng việc tìm mọi cách để giảm thiểu chi phí của người tiêu dùng tính trên một đơn vị lợi ích do tiêu dùng sản phẩm mang lại chính là con đường để nâng cao sức cạnh tranh của công ty và hàng hóa của công ty. Khi đánh giá được giá trị tiêu dùng và chi phí đối với từng hàng hoá khách hàng sẽ có căn cứ để lựa chọn hàng hoá. Việc lựa chọn một hàng hóa cụ thể để đi đến quyết định mua sẽ tùy thuộc vào việc hàng hoá nào được khách hàng nhận thức và đánh giá sẽ cống hiến cho họ giá trị cao nhất. Từ đó lại hình thành khái niệm giá trị dành cho khách hàng.
♦ Giá trị dành cho khách hàng là sự chênh lệch giữa tổng lợi ích và tổng chi phí của sản phẩm do doanh nghiệp chào bán so với sản phẩm cạnh tranh

♦ Trên thực tế, khách hàng thường không chính xác và khách quan tổng giá trị và tổng chi phí của sản phẩm. Để đánh giá họ thường liên tưởng và suy diễn dựa vào một hoặc một vài đặc tính chủ chốt nào đó của sản phẩm. Người làm marketing giỏi là người phát hiện trúng và hiện thực hóa được những liên tưởng và suy diễn này của khách hàng

♦ Sau khi mua xong hàng hóa sẽ được tiêu dùng. Tiêu dùng là giai đoạn kiểm chứng giá trị dành cho khách hàng và từ đó hình thành trạng thái cảm giác hài lòng hay không hài lòng, hài lòng đến mức độ nào của người tiêu dùng. Mức độ hài lòng của người tiêu dùng chính là sự thỏa mãn của họ.

♦ Sự thoả mãn là mức độ của trạng thái cảm giác ở người tiêu dùng bắt nguồn từ việc so sánh lợi ích thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm với những kỳ vọng của họ trước khi mua.

5 Trao đổi, giao dịch và quan hệ

Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thoả mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.

  • Trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một người nào đó bằng cách đưa cho họ một thứ khác có giá trị tương đương. Trao đổi là khái niệm căn bản nhất tạo nền móng cho hoạt động marketing. Nhưng để tiến tới trao đổi cần phải có các điều kiện sau:
    • Ít nhất phải có hai bên;
    • Mỗi bên cần phải có một thứ gì đó có giá trị đối với bên kia;
    • Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao thứ mình có;
    • Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay từ chối đề nghị của bên kia;
    • Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia.

Năm điều kiện trên tạo ra tiền đề cho trao đổi. Một cuộc trao đổi thực sự chỉ diễn ra khi hai bên đã thoả thuận được với nhau về các điều kiện của trao đổi có lợi (hoặc chí ít cũng không có hại) cho cả hai bên.

Vì vậy, trao đổi là một quá trình chứ không phải là một sự việc. Hai bên được xem là đang thực hiện trao đổi nếu họ đang thương lượng để đi đến những thoả thuận. Khi đã đạt được sự thoả thuận thì người ta nói rằng một giao dịch đã hoàn thành. Giao dịch là đơn vị đo lường cơ bản của trao đổi.

  • Giao dịch là một cuộc trao đổi mang tính chất thương mại những thứ có giá trị giữa hai bên. Các giao dịch thương mại chỉ có thể diễn ra thực sự khi hội đủ các điều kiện:
    • Ít nhất có hai thứ có giá trị;
    • Những điều kiện thực hiện giao dịch đã thoả thuận xong;
    • Thời gian thực hiện đã thoả thuận xong;
    • Địa điểm thực hiện đã thoả thuận xong.

Những thoả thuận này có thể được thể hiện trong cam kết hoặc hợp đồng giữa hai bên, trên cơ sở một hệ thống luật pháp buộc mỗi bên phải thực hiện cam kết của mình.

Khi thực hiện các giao dịch hai bên rất dễ phát sinh mâu thuẫn do hiểu lầm. Vì vậy, việc giao dịch lần đầu hoặc với những khách hàng mới thường rất khó khăn. Những công ty thực hành marketing thành công thường tập trung vào thiết lập mối quan hệ bền vững, lâu dài và tin cậy với những tập hợp khách hàng sinh lợi trên cơ sở triết lý về marketing quan hệ.

Marketing quan hệ là bản chất của marketing hiện đại với mục tiêu duy trì và phát triển quan hệ kinh doanh bền vững và lâu dài giữa những khách hàng sinh lợi với doanh nghiệp thông qua việc tìm cách cung ứng những giá trị tốt hơn cho khách hàng. Marketing quan hệ là nền tảng của quản trị mối quan hệ với khách hàng

6 Thị trường

♦ Khái niệm trao đổi, giao dịch dẫn ta đến khái niệm thị trường. Các môn học tiếp cận khái niệm thị trường theo các góc độ khác nhau. Theo quan điểm marketing thị trường được hiểu như sau:

♦ Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.

♦ Như vậy, theo khái niệm này, quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc vào số người có cùng nhu cầu, cùng mong muốn, có đủ thu nhập và sẵn sàng bỏ ra mua sắm hàng hoá để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mô thị trường không phụ thuộc vào số người đã mua hàng và cũng không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn nhưng không có đủ thu nhập (kể cả nguồn tự có và vay mượn) hoặc có thu nhập nhưng không sẵn sàng chi ra để mua sắm.

♦ Mặc dù tham gia thị trường phải có cả người mua và người bán, nhưng người làm marketing lại coi người bán (trong đó có bản thân họ) hợp thành ngành sản xuất – cung ứng, là các đối thủ cạnh tranh của nhau, còn người mua mới hợp thành thị trường. Bởi vậy, họ thường dùng thuật ngữ thị trường để ám chỉ một nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định; họ có đặc điểm giới tính, tâm sinh lý, độ tuổi, khả năng mua sắm nhất định và sinh sống ở một vùng cụ thể.

♦ Như vậy, rõ ràng là không có sự hiểu biết đầy đủ về khái niệm nhu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí, sự thoả mãn, trao đổi, giao dịch, thị trường thì chúng ta không thể hiểu đúng đắn và đầy đủ khái niệm marketing và cũng không thể thực hành thành công triết lý marketing vào kinh doanh. Bởi vì, mỗi khái niệm trên đều hàm ý những chỉ dẫn nhất định cho các nhà quản trị marketing và quản trị kinh doanh.

Get real time updates directly on you device, subscribe now.

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of
PHP Code Snippets Powered By : XYZScripts.com